Mụn cóc (hột cơm)

Mụn cóc, hay còn gọi là hột cơm, là một dạng phát triển của da gây ra do virus. Virus này thuộc nhóm virus papilloma ở người gây ra chứng mụn cóc. Những loại virus khác nhau thường gây bệnh ở những bộ phận khác nhau trên cơ thể

Mụn cóc (hột cơm) là gì?

Mụn cóc (hột cơm)
Hình ảnh minh họa

Mụn cóc, hay còn gọi là hột cơm, là những u nhỏ lành tính, bề mặt thường sần sùi, gây ra bởi virus HPV (Human Papilloma Virus). HPV xâm nhập vào da qua những vết trầy xước bên ngoài.
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tỷ lệ mắc ở trẻ em cao hơn vì trẻ hiếu động, thường xuyên làm trầy sướt chân tay, hay đi chân không, cắn móng tay, nghịch đất cát, lê la dưới đất - nơi có virus HPV.
Phụ nữ làm móng, cắt khóe móng chân, tay, cũng là nguyên nhân gây mụn cóc. Ngoài ra, người bị suy giảm hệ miễn dịch như khi bị ung thư máu, lymphoma hay nhiễm HIV/AIDs dễ bị mụn cóc và thường lâu khỏi.

Triệu chứng và dấu hiệu

Mụn cóc thường gây khó chịu trên da. Đôi khi mụn cóc gây ra chảy máu nếu mụn xuất hiện ở trên mặt hay đầu. Mụn cóc bàn chân có thể gây đau và dễ vỡ khi bước đi.
- Mụn cóc bàn chân, tổn thương cơ bản là một điểm dầy sừng hình tròn sùi vào sâu, đau nhất là khi vận động hoặc đụng chạm vào, thường đơn độc hoặc có một vài tổn thương đơn lẻ. Đây là loại tổn thương thường gặp.
- Mụn cóc thông thường (common warts) là những cục sẩn cứng nhô trên da, mặt sần sùi, hình tròn, kích thước từ 2 mm đến vài chục milimét, có màu xám. Loại mụn cóc này có thể mọc ở một số vị trí đặc biệt ở dưới lòng bàn chân, dưới móng chân tay, khi chạm vào thường gây đau nhói.
- Mụn cóc filiformes vị trí ưu thế của các hốc tự nhiên (bán niêm mạc) hoặc vùng cổ, vùng mọc râu (tự lây nhiễm bởi cạo râu) thường kết hợp với các tổn thương hình bán cầu, bề mặt bóng. Hạt cơm ở tay được gây ra bởi HPV2 và HPV1 (13%).
- Mụn cóc phẳng tổn thương là những sẩn nhỏ hiếm khi nổi cao, màu vàng hoặc màu vàng nhạt, bề mặt bóng, mảnh, thường tập trung thành dải hoặc tạo thành mảng, cảm giác thường hơi ngứa. Mụn cóc này thường lây lan nhanh nên có vài chục đến hàng trăm cái mọc trên da, có khi mọc thành vệt dài gọi là hiện tượng Koebner. Vị trí thường gặp ở lưng bàn tay, cẳng tay, mặt cổ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Nên gọi bác sĩ nếu bạn thuộc một trong những trường hợp sau:

  • Bạn không chắc chắn rằng sự phát triển của da có phải là mụn cóc hay không. Đối với người trên 60 tuổi và chưa từng bị mụn cóc, nên đi khám bác sĩ để kiểm tra xem tình trạng bệnh có phải là ung thư da hay không.
  • Việc điều trị tại nhà bằng thuốc không kê toa không có hiệu quả sau 2 đến 3 tháng.
  • Mụn cóc đang phát triển hoặc lan nhanh mặc dù đang trong giai đoạn điều trị.
  • Xuất hiện các dấu hiệu của chứng nhiễm trùng do vi khuẩn, bao gồm đau nhức, sưng, mẫn đỏ, mụn chảy mủ hoặc bị sốt.
  • Mụn cóc bàn chân trở nên quá đau không thể đi lại được.
  • Bạn bị tiểu đường hoặc bệnh động mạch ngoại biên và bị mụn cóc ở cẳng chân hoặc bàn chân.
  • Bạn mắc chứng mụn cóc ở bộ phận sinh dục hay ở xung quanh vùng hậu môn.

Nguyên nhân gây ra mụn cóc (hột cơm)

Tất cả mụn cóc có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây qua việc dùng chung vật dụng với người có mụn cóc như khăn lau, giầy dép, quần áo. Thông thường phải mất 2 đến 3 tháng sau khi tiếp xúc với người bệnh thì mới biết có bị lây hay không.
Việc cào và nặn mụn có thể làm lây lan mụn cóc. Từ vài mụn cóc lớn ban đầu (còn được gọi là “mụn cóc mẹ”), chúng lây lan sang những vùng da lân cận hay những vùng da bị tiếp xúc trực tiếp và tạo ra nhiều “mụn cóc con” nhỏ li ti. Những mụn con này sẽ phát triển rồi tiếp tục lây lan theo cấp số nhân.

Nguy cơ mắc bệnh

  • Trẻ em có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn người lớn vì trẻ hiếu động, thường xuyên làm trầy xước chân tay, hay đi chân không, cắn móng tay, nghịch đất cát, lê la dưới đất;
  • Những người có hệ miễn dịch suy yếu, ví dụ như người bị bệnhHIV/AIDS hoặc những người đã cấy ghép nội tạng;
  • Đi lại bằng chân trần trên các bề mặt ẩm ướt, như là phòng tắm và phòng thay đồ công cộng, hoặc các khu vực hồ bơi;
  • Dùng chung khăn tắm, dao cạo râu, và các vật dụng cá nhân khác của người bị mụn cóc;
  • Cắn móng tay hoặc lớp biểu bì;
  • Việc mang giày chật gây ra tình trạng chảy mồ hôi ở chân.

Điều trị mụn cóc (hột cơm)

Việc điều trị mụn cóc thường thành công nhưng không phải lúc nào cũng loại bỏ hẳn được mụn cóc. Chính việc điều trị có thể gây ra các biến chứng như đau nhức, nhiễm trùng hoặc để lại sẹo. Loại mụn cóc không gây đau có thể không cần phải điều trị. Cần tránh làm lây lan virus, ví dụ như, che phủ mụn cóc khi sinh hoạt ở nơi công cộng.
Điều trị còn phụ thuộc vào vị trí có mụn cóc. Dạng mụn cóc thông thường ở cánh tay, bàn tay, và cẳng chân có thể được điều trị bằng dung dich axit salicylic. Thoa dung dịch lên mụn cóc vào mỗi buổi tối và mỗi sáng cho đến khi phần da chết được lột bỏ. Mụn cóc ở chân có thể được chữa trị bằng thuốc dán acid salicylic 40%. Mụn cóc dẹt thường được chữa trị bằng phương pháp lột da có sử dụng kem tretinoin hay 5-fluorouracil. Đối với mụn cóc sinh dục, hai người có quan hệ tình dục cần phải đi khám bác sĩ.
Nếu những phương pháp điều trị không có hiệu quả, bác sĩ sẽ kê đơn các loại thuốc mạnh hơn như kem imiquimod hoặc acid trichloroacetic. Các phương pháp khác bao gồm làm đông lạnh, tiêm mụn cóc bằng loại thuốc kích thích hệ miễn dịch, phẫu thuật cắt bỏ hoặc đốt mụn cóc bằng tia laser hoặc điện.

Phòng ngừa và hạn chế mụn cóc (hột cơm)

  • Rửa tay cẩn thận sau khi chạm vào mụn cóc để tránh làm lây lan mụn cóc;
  • Gọi bác sĩ nếu không thể chữa khỏi mụn cóc bằng dung dịch acid salicylic không kê đơn;
  • Gọi bác sĩ nếu bệnh không cải thiện tốt hơn sau vài tuần điều trị.
  • Không cắn móng tay. Mụn cóc thường xuất hiện khi da bị tổn thương. Việc cắn vùng da quanh móng tay có thể tạo cơ hội cho virus xâm nhập vào da.
  • Chăm sóc da cẩn thận. Để tránh lây lan virus, không chải, cắt hoặc cạo ở những khu vực có mụn cóc. Nếu bạn phải cạo râu, nên dùng dao cạo râu điện.
  • Không dùng chung vật dụng cá nhân. Virus có thể lây truyền từ vật dụng cá nhân của người bị mụn cóc.
  • Không nặn mụn cóc để tránh làm lây lan virus. Nên che mụn cóc bằng băng gạc.
  • Tránh tiếp xúc trực tiếp với mụn cóc, kể cả mụn cóc của chính bạn.
  • Rửa tay cẩn thận sau khi chạm vào mụn cóc hoặc các vật dụng dùng chung.
  • Tránh đi lại bằng chân trần trên các bề mặt ấm, ẩm ướt vì virus mụn cóc thường tồn tại ở những nơi này. Nên mang giày tắm khi sinh hoạt ở phòng tắm, phòng thay đồ, hoặc hồ bơi công cộng.
  • Giữ chân khô. Nếu bàn chân đổ mồ hôi nhiều, nên mang vớ hút ẩm.
  • Tránh làm tổn thương lòng bàn chân. Mụn cóc thường phát triển dễ dàng hơn khi da bị tổn thương.

(nguồn Hello Bác sĩ)

- 04-07-2018 -

Bài viết liên quan

  • 28-05-2018
    Thoái hoá điểm vàng (hoặc thoái hóa hoàng điểm) là một tình trạng bệnh lý xảy ra và gây tổn thương ở điểm vàng (hoàng điểm) của mắt. Điểm vàng là một điểm nhỏ bằng cỡ chữ o (font chữ 12) nằm tại trung tâm võng mạc ở phần sau nhãn cầu. Bình thường, điểm
  • 05-07-2018
    Loét bàn chân ở bệnh nhân tiểu đường là một biến chứng nguy hiểm, có thể phải bị cắt cụt cả bàn chân hoặc cẳng chân, gây tàn phế suốt đời cho người bệnh. Sự khởi đầu của biến chứng này là nhiễm trùng và có sự kết hợp của bệnh lý về thần kinh
  • 28-05-2018
    Khi ra đời, tuyến tiền liệt của các bé trai có kích thước bằng hạt đậu. Tuyến tiền liệt to lên chút ít trong suốt thời thơ ấu và sau đó lớn vọt lên ở tuổi dậy thì. Đến năm 25 tuổi, tuyến tiền liệt phát triển đầy đủ và có kích cỡ bằng một quả óc chó.
  • 17-10-2018

    Hội chứng ống cổ chân là một bệnh hiếm gặp, ảnh hưởng đến dây thần kinh giữa của ống cổ chân. Dây thần kinh này đóng vai trò tiếp thu cảm giác và kiểm soát vận động ở cổ chân và bàn chân. Bệnh gây ra cơn đau rát dọc bên trong mắt cá chân và xuống

  • 28-05-2018
    Ung thư ruột già là một trong những ung thư thường xuyên và nguy hiểm nhất tại Hoa Kỳ. Mỗi năm trên nước Mỹ hơn 130.000 người bị ung thư ruột già và trong số này gần một nửa sẽ tử vong trong một thời gian ngắn sau khi bệnh được phát hiện. Nếu so với
  • 28-05-2018
    Nếu bạn đã bị chấn thương dây chằng chéo trước, bạn có thể cần phải phẫu thuật để phục hồi chức năng đầy đủ của đầu gối. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như mức độ nghiêm trọng của chấn thương và mức độ hoạt động của bạn.